Những điểm khác biệt giữa ẩm thực Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Hàn Quốc ,Nhật Bản?

Những điểm khác biệt chủ yếu giữa các nền ẩm thực Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Hàn Quốc và Nhật Bản?
Đầu tiên, hãy chia các nước trên thành hai nhóm Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản) và Đông Nam Á (Thái Lan, Việt Nam). Có một điều dễ nhận thấy là có sự trùng lặp trong văn hóa ẩm thực của hai nhóm này, tuy nhiên không phải giống nhau 100% (Ví dụ: Nhật Bản có shottsuru, một phiên bản Nhật của nước mắm cá, mặc dù hiếm hơn). Ngoài ra thì Trung Quốc là một đất nước rộng lớn, vậy nên rất nhiều nét trong ẩm thực Đông Nam Á có thể được tìm thấy ở một số đặc điểm trong nền ẩm thực của đất nước này.

am thuc hay

Người Đông Nam á có xu hướng dùng các loại mì gạo, còn người Đông Á thì dùng mì làm từ lúa mì (mặc dù vẫn có ngoại lệ, như là miến và mì kiều mạch). Người Đông Nam Á thường dùng dầu lạc, trong khi đó người Đông Á hay dùng dầu mè. Người Đông Nam Á thích dùng nước mắm, trong khi người Đông Á thích nước tương. Người Đông Á sử dụng gừng nhiều hơn một chút, người Đông Nam Á lại hay sử dụng các loại gia vị khác (sả, lá chanh, rau mùi, húng quế, riềng) và các loại hoa quả nhiệt đới. Mứt đậu đỏ là một hương liệu phổ biến trong các món tráng miệng ở Đông Á, trong khi các món tráng miệng Đông Nam Á thường sử dụng bột năng và hương lá dứa.

Một số loại rau gia vị phổ biến ở Đông Nam Á

Patbingsu đậu đỏ (đá bào đậu đỏ), một món giải khát nổi tiếng của Hàn Quốc

Patbingsu đậu đỏ

Bánh đúc lá dứa cốt dừa của Việt Nam

Bánh đúc lá dứa cốt dừa của Việt Nam
Về độ ăn cay, tôi sẽ đặt Thái Lan lên vị trí đầu tiên, thứ hai là Trung Quốc (mặc dù nó tùy thuộc vào vùng miền, vùng ăn cay nhất là Tứ Xuyên), Hàn Quốc ở vị trí thứ ba, sau đó là Việt Nam và cuối cùng là Nhật Bản.
Về các loại mì, người Nhật sử dụng một loại mì kiều mạch được gọi là soba, một loại mì kiềm được dùng trong ramen và yakisoba, udon và somen. Người Hàn có miến làm từ bột khoai lang, làm chúng ta liên tưởng tới miến đậu xanh, “woonsen” của người Thái. Họ cũng sử dụng mì kiều mạch. Thái Lan có mì trứng ba mie, mì gạo (sen mi, sen lek và sen yai) và khanom jeen. Việt Nam có các loại mì gạo và một số loại mì khác mà tôi không nắm rõ. Ngoại trừ khanom jeen của Thái Lan được cho là một phát minh riêng của người Thái, tất cả các loại mì này đều có thể xuất hiện dưới những hình thức khác trong ẩm thực Trung Hoa.

Mì ramen Nhật Bản

Mì ramen Nhật Bản

Một đĩa mì khanom jeen của Thái Lan

Một đĩa mì khanom jeen của Thái Lan

Người Hàn và người Việt sử dụng nhiều thịt bò trong các món ăn, ví dụ bulgogi, galbi, bò 7 món, phở, … Người Trung sử dụng một lượng thịt lợn khá lớn. Người Thái thường sử dụng hải sản để chế biến các món ăn, bên cạnh đó họ cũng dùng thịt lợn thường xuyên. Người Thái và người Nhật có lẽ là những người sử dụng mực ống nhiều nhất.

Phở bò Việt Nam

Phở bò Việt Nam, một trong những món ăn nổi tiếng toàn cầu

Một ổ bánh mì Việt Nam, một trong những món ăn đường phố ngon nhất thế giới
Người Thái và người Việt giống nhau trong việc sử dụng rất nhiều loại rau gia vị và trái cây nhiệt đới như xoài, dứa, me, chuối, dừa và đu đủ (thường là chưa chín). Nhưng người Thái dùng cà ri kết hợp với các loại gia vị, tôi cho rằng điều này là một ảnh hưởng từ Ấn Độ. Ẩm thực Việt Nam có xu hướng chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc, song cũng mang phong vị của ẩm thực Pháp do từng làm thuộc địa. Điều này có thể nhận thấy dựa trên sự phổ biến của phở bò, pa-tê gan và ảnh hưởng của bánh mì baguette lên ổ bánh mì Việt Nam.

Một ổ bánh mì Việt Nam

Trong ẩm thực Thái Lan, người ta không sử dụng gừng trong xào nấu nhiều như Trung Quốc, bên cạnh đó cũng chiên xào ở nhiệt độ thấp hơn. Người Thái sử dụng nước cốt dừa vô cùng nhiều, mặc dù người Việt cũng sử dụng cốt dừa nhưng với mức độ ít hơn. Người Thái dùng gạo hương lài, tôi tin rằng loại gạo này có xuất xứ từ Thái Lan. Miền Bắc và vùng Đông Bắc Thái Lan thường sử dụng gạo nếp và ăn bằng tay. Ẩm thực đất nước này cũng có rất nhiều món tráng miệng sử dụng ngô làm topping hoặc thành phần chính của món ăn. Thậm chí trong các tiệm McDonalds ở Thái cũng có món bánh ngô.

Cà ri xanh của Thái Lan

Tempura Nhật Bản
Các món chiên của Nhật Bản chịu ảnh hưởng từ Bồ Đào Nha, ví dụ như tempura và panko. Ngoài ra còn có sushi và wasabi. Người Nhật thường dùng các món tráng miệng có vị trà xanh matcha. Họ cũng sử dụng rong biển nhưng ở mức độ ít hơn so với người Hàn.

Cà ri xanh của Thái Lan

Có một loại nguyên liệu tên là katsuobushi/bonito làm từ cá ngừ được sử dụng trong ẩm thực Nhật Bản, katsuobushi/bonito còn được sử dụng rộng rãi để làm topping trong nhiều món ăn Osaka như okonomiyaki và takoyaki, cũng như để nấu nước dùng dashi. Người Nhật cũng có một loại sốt là phiên bản ngọt đậm của nước sốt worcestershire, họ sử dụng loại sốt này và sốt mayonnaise cho rất nhiều món ăn, đặc biệt với các món Osaka như tôi đã đề cập.

Gochujang, tương ớt Hàn Quốc

Người Hàn sử dụng gochujang, một loại tương ớt lên men. Họ cũng nổi tiếng với món thịt nướng kiểu Hàn Quốc. Người Hàn có lẽ là những người thích sử dụng các loại kimchi, rau củ muối nhất. Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, mỗi nước đều có nhiều loại nước tương làm từ đậu nành. Người Trung có xì dầu (light soy sauce) và hắc xì dầu (dark soy sauce), còn người Nhật chủ yếu sử dụng tamari và shoyu, hai loại tương này khác nhau về hàm lượng lúa mì. Người Hàn và người Nhật cũng tận dụng thứ hỗn hợp còn lại sau quá trình làm nước tương để làm gia vị nấu ăn, họ gọi nó là đậu tương lên men.
Trong ẩm thực Nhật Bản và Trung Quốc, người ta thường sử dụng rượu, nhất là rượu gạo để nấu ăn. Người Trung thường sử dụng rượu Thiệu Hưng hoặc liaojiao, còn người Nhật sử dụng rượu mirin hoặc sake. Còn trong ẩm thực Việt Nam hoặc Hàn Quốc, tôi chưa từng nghe thấy rượu được sử dụng để nấu ăn. Ẩm thực Thái Lan cũng không có các món ăn có thành phần rượu, mặc dù có lần tôi đã nhìn thấy người ta ướp sườn với rượu Mekhong Whiskey.

Các thành phần tiêu biểu của ngũ vị hương: Quế, đinh hương, hoa hồi, hạt tiêu, hạt thì là

Ẩm thực Trung Hoa có lẽ là khó để tổng quát nhất bởi vì mỗi vùng miền Trung Quốc lại có một nền ẩm thực riêng biệt (mặc dù giữa chúng vẫn có những nét tương đồng), thậm chí nhiều nước còn vay mượn các yếu tố từ nền ẩm thực của quốc gia này. Thái Lan, Việt Nam và Nhật Bản đều có một phiên bản của món xá xíu của người Trung. Nói về gia vị, ngũ vị hương chính là thứ đầu tiên tôi nghĩ đến.
Còn nói về ẩm thực vùng miền, tôi sẽ tập trung về ẩm thực Tứ Xuyên. Có một từ là mala (ma lạt) để chỉ loại mùi vị kết hợp giữa cay và tê. Vị cay là từ ớt, vị tê tê đến từ tiêu Tứ Xuyên. Tê là một đặc trưng cho món ăn Tứ Xuyên. Miền Bắc Thái Lan cũng có một loại tiêu tương tự, Nhật Bản có tiêu sansho nhưng chúng không được sử dụng phổ biến như người Tứ Xuyên sử dụng tiêu của họ để nấu ăn. Ngoài ra, cũng có một loại đậu lên men cay được goi là doubanjiang (tương đậu bản).

Lẩu Tứ Xuyên với vị cay nồng trứ danh

Trả lời 2: Suttichart Denpreuktham – Mặc dù nhìn không giống nhưng tôi là người Thái nha
1. Trung Quốc:
Hầu hết các món ăn đều không ngọt.

Lẩu Tứ Xuyên
Tạo mùi vị nhờ vào nước tương là chính, ngoài ra cũng dùng dấm, đôi khi là các loại dầu tạo vị.
Sử dụng nhiều dầu mỡ.
Phong phú trong các món nước (sử dụng nguyên liệu chính là thịt).

Đồ ăn Trung Quốc nổi tiếng nhiều dầu mỡ

2. Nhật Bản
Hầu hết các món đều không ngọt (vẫn có một số ngoại lệ).
Sử dụng nước tương để tạo hương vị.
Không dùng nhiều dầu trừ khi làm các món chiên.
Nhiều món chiên ngập dầu.
Nhiều món ăn sống.
Các món ăn theo thực đơn được thiết kế sẵn.
Hương vị rất đơn giản, dựa vào chính nguyên liệu để tạo mùi vị, thường nhạt hơn so với món ăn Trung Quốc (ví dụ như với món soup, người Nhật thường dùng cá hoặc rong biển).

Sushi với cá sống của Nhật Bản

3.Hàn Quốc:
Hầu hết các món đều có vị ngọt.
Sử dụng xì dầu ngọt, tương đậu ngọt, tương ớt ngọt để tạo mùi vị (người Nhật cũng dùng xì dầu và tương đậu ngọt nhưng ít hơn nhiều).
Sử dụng hoa quả trong các món tráng miệng
Dùng thịt nướng để chế biến thành rất nhiều món ăn khác.
Ăn nhiều rau củ muối.
Tương đối cay.

Thịt nướng ăn kèm kimchi của Hàn Quốc

4. Việt Nam
Vị ngọt là chủ yếu.
Sử dụng nước mắm để làm đậm đà hương vị.
Ăn nhiều rau xanh (người Trung và Nhật cũng thường ăn rau nhưng không nhiều như người Việt).
Ăn nhiều các loại bánh làm từ gạo (tôi không rõ về tên gọi các loại bánh này) hơn bất cứ nơi đâu trên thế giới.
Các loại mì bún phở được làm từ gạo và sợi khá dày.
Không ăn nhiều đồ dầu mỡ, chiên rán.

Bánh cuốn, một loại bánh làm từ bột gạo, nhân thường bao gồm mộc nhĩ và thịt lợn băm, ăn kèm chả và nước mắm chua ngọt
5. Thái Lan
Vị ngọt là chính.
Dùng nước mắm, mắm tôm, và nhiều loại gia vị làm từ động vật được lên men để làm gia vị.
Ẩm thực Thái Lan có rất nhiều nét pha trộn với Trung Quốc.
Là nước ăn cay nhất trong các nước được so sánh.
Có nhiều món sử dụng cà ri.
Dùng ớt nhiều hơn hạt tiêu (Việt Nam cũng vậy).
Rau thường được ăn sống.
Cơm được ăn cùng các loại thức ăn khác, không phải để no bụng mà là để tạo ra sự hài hòa hương vị trong bữa ăn.
Cực ưa chuộng vị cay, ngọt và chua.

Somtam (gỏi đu đủ xanh) của Thái Lan, món ăn có đủ vị cay, ngọt và chua, rất được người Thái yêu thích

Bình luận về bài viết

comments