Những thí nghiệm tâm lý thú vị có thể dễ dàng thực hiện?

Sau đây là một vài thí nghiệm tâm lý học khá nổi tiếng
1/ “Cỗ máy quan sát” của Fantz
Người thực hiện: Robert L. Fantz
Thí nghiệm được thực hiện năm 1961 tại Đại học Illinois
Chi tiết: Thí nghiệm của Fantz là một trong những nghiên cứu đơn giản nhất nhưng đồng thời cũng là một trong những nghiên cứu quan trọng nhất trong việc tìm hiểu sự quan sát và phát triển của trẻ sơ sinh. Vào thời điểm thí nghiệm được thực hiện, có rất ít nghiên cứu về tâm lý của trẻ sơ sinh. Fantz nhận ra rằng cách tốt nhất để giải quyết khó khăn này là quan sát những hành động và phản ứng của những đứa trẻ. Ông biết một yếu tố căn bản là khi một người quan tâm về thứ gì đó ở gần, họ thường sẽ nhìn vào vật đó.

co may quan sat
Để kiểm tra nhận định này, Fantz đã làm một “bảng hiển thị” gồm 2 bức hình: hình đầu là những vòng tròn đồng tâm (như bia tập bắn) và hình còn lại là khuôn mặt người. Tấm bảng sẽ được treo bên trong một thiết bị đặt ở bên trên một đứa trẻ sơ sinh để đứa trẻ có thể dễ dàng nhìn thấy cả hai bức hình. Kế đó, ở một vị trí mà đứa bé không nhìn thấy được, ông tạo một lỗ nhỏ để quan sát hành vi của đứa trẻ. Kết quả chỉ ra rằng, đứa bé hai tháng tuổi nhìn về phía khuôn mặt người gấp đôi hình còn lại. Điều này cho thấy trẻ sơ sinh có khả năng phân biệt những hình ảnh và khuôn mẫu mà chúng nhìn thấy. Trước thí nghiệm này, người ta vẫn cho rằng những điều trẻ sơ sinh có thể nhìn thấy rất hỗn loạn và không có ý nghĩa gì đối với chúng.

2/ Hiệu ứng Hawthorne
Người thực hiện: Henry A. Landsberger
Thí nghiệm được thực hiện năm 1955 tại nhà máy Hawthorne Works ở Chicago, Illinois
Chi tiết: Hiệu ứng Hawthorne đưa ra một giả thuyết đơn giản rằng những đối tượng đang tham gia vào một thí nghiệm/nghiên cứu sẽ thay đổi hành vi của họ bởi vì họ biết mình đang bị quan sát và đánh giá.

hieu ung
Landsberger thực hiện nghiên cứu này bằng việc phân tích những dữ liệu thu được trong các thử nghiệm thực hiện bởi Elton Mayo tại nhà máy Hawthorne Works vào khoảng 1924 đến 1932. Nhà máy trên đã ủy thác Mayo thực hiện nghiên cứu để đánh giá sự ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đối với năng suất làm việc. Kết quả mà Mayo thu được cho thấy rằng ánh sáng không tạo ra sự khác biệt về năng suất lao động bởi vì các công nhân ở nhà máy có thể tăng sản lượng kể cả khi cường độ ánh tăng từ mức thấp lên mức cao hoặc ngược lại từ mức cao giảm xuống mức thấp.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng năng suất lao động tăng lên khi có bất kỳ biến số nào đó bị thao túng. Kết quả chỉ ra rằng năng suất lao động thay đổi là do những công nhân ý thức được việc họ đang bị theo dõi và vì vậy họ cảm thấy hài lòng vì mình là một người quan trọng đã được chọn ra để tiến hành nghiên cứu. Chính điều này đã giúp gia tăng năng suất. Nói cách khác, trở thành “người được lựa chọn” mới là yếu tố quyết định năng suất chứ không phải ánh sáng hay bất kỳ yếu tố nào khác mà họ đã tiến hành thử nghiệm. Hiệu ứng Hawthorne là một trong những thành kiến sẵn có khó loại bỏ nhất và cũng là yếu tố khó kiểm soát nhất của bất kỳ thí nghiệm nào thuộc lĩnh vực tâm lý học và cả những lĩnh vực khác.

3/ Vụ án của Kitty Genovese
Người thực hiện: Lực lượng cảnh sát New York
Vụ án diễn ra vào năm 1914 tại New York
Chi tiết: Vụ sát hại Kitty Genovese chưa bao giờ là một thí nghiệm khoa học tuy nhiên vụ án này lại có ý nghĩa vô cùng lớn đối với lĩnh vực tâm lý học.
Theo một bài báo của tờ New York Times, gần bốn mươi người hàng xóm đã chứng kiến sự việc Kitty Genovese bị tấn công và giết hại dã man tại Queens, New York vào năm 1914. Tuy nhiên, không có bất kỳ một người hàng xóm nào gọi cảnh sát nhờ giúp đỡ. Một số báo cáo còn nói rằng kẻ tấn công đã rời khỏi hiện trường trong một thời gian ngắn sau đó quay lại để kết liễu nạn nhân của hắn ta. Mặc dù vậy, về sau người ta phát hiện rằng nhiều thông tin trong số này đã bị phóng đại lên (chỉ có khoảng hơn 10 nhân chứng có mặt tại hiện trường và theo ghi nhận thì đã có những cuộc gọi đến cảnh sát để báo án).
Vụ án này đã trở thành một ví dụ nổi tiếng cho Hiệu ứng Người ngoài cuộc (Bystander Effect). Hiệu ứng này cho rằng khi càng có nhiều người ngoài cuộc có mặt trong một tình huống xã hội thì sẽ càng ít người tham gia vào tình huống đó và giúp đỡ người khác. Hiệu ứng Người ngoài cuộc đã dẫn đến nhiều sự thay đổi trong y học, tâm lý học và nhiều lĩnh vực khác. Một ví dụ điển hình cho điều này là các học viên mới trong các khóa học CPR (viết tắt của: cardiopulmonary resuscitation – hồi sức tim phổi) đều được dạy rằng phải chỉ định cụ thể một người lạ nhận nhiệm vụ gọi điện cho nhà chức trách để giảm thiểu đối đa khả năng không có ai gọi nhờ giúp đỡ.

4/ Thí nghiệm về Bất lực tập nhiễm/Sự bất lực có điều kiện

Người thực hiện: Martin Seligman
Thí nghiệm được thực hiện năm 1967 tại Đại học Pennsylvania
Chi tiết: Vào năm 1965, Martin Seligman và đồng nghiệp của ông nghiên cứu về Điều kiện hóa cổ điển (classical conditioning), quá trình mà một động vật hoặc con người liên kết mọi thứ với nhau. Seligman tiến hành thí nghiệm bằng cách cho một chú chó nghe tiếng chuông rồi sốc điện nhẹ. Sau vài lần thực hiện, chú chó sẽ có phản ứng của việc sốc điện trước cả khi việc sốc điện diễn ra: ngay khi nghe tiếng chuông, con vật sẽ phản ứng như thể nó đang bị sốc điện.

thi nghiem
Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành phần 2 của thí nghiệm này, có một số kết quả ngoài dự đoán đã xảy ra. Mỗi một chú chó được đặt trong một chiếc hộp lớn và chiếc hộp được chia làm hai nửa bằng một hàng rào thấp ở giữa làm sao để con vật có thể dễ dàng nhảy qua lại giữa 2 bên. Sàn hộp một bên được tích điện nhưng bên còn lại thì không. Ban đầu, tất cả các con chó đều được đặt ở bên hộp có tích điện và Seligman dự đoán rằng các con chó đều sẽ nhảy sang bên hộp còn lại. Ngạc nhiên là thay vì làm vậy thì chúng chỉ đơn giản nằm xuống sàn. Seligman đưa ra giả thuyết những chú chó này đã học được từ những lần thí nghiệm đầu rằng bọn chúng không thể làm được gì để tránh những cú sốc, do đó bọn chúng đã bỏ cuộc khi tiến hành thí nghiệm vào lần 2. Để chứng minh cho giả thuyết này, các nhà nghiên cứu đã mang thêm những chú chó khác và kết quả cho thấy những chú chó mới (không tham gia vào thí nghiệm đầu) sẽ nhảy qua hàng rào.
Tình trạng này được gọi là Bất lực tập nhiễm (learned helplessness) xảy ra khi con người hoặc động vật không cố gắng thoát khỏi các tình huống tiêu cực bởi vì kinh nghiệm trong quá khứ khiến họ cảm thấy tuyệt vọng, không thể thay đổi được hoàn cảnh.
Xem thêm thông tin về Điều kiện hóa cổ điển.
Xem thêm thông tin về Bất lực tập nhiễm

5/ Thí nghiệm Albert bé nhỏ

Người thực hiện: John B. Watson and Rosalie RaynerThí nghiệm tiến hành năm 1920 tại Đại học Johns Hopkins
Chi tiết: thí nghiệm Albert bé nhỏ được xem là một trong những thí nghiệm tâm lý phi đạo đức nhất mọi thời đại. Thí nghiệm được tiến hành vào năm 1920 bởi John Watson and Rosalie Rayner tại đại học Johns Hopkins. Giả thuyết được đưa ra là thông qua vài lần tiếp xúc với yếu tố kích thích, họ có thể khiến một đứa trẻ chín tháng tuổi phát triển những nỗi sợ hãi vô lý.

be nho
Thí nghiệm bắt đầu bằng việc đặt một chú chuột trắng phía trước đứa trẻ, ban đầu đứa bé hoàn toàn không sợ hãi trước con chuột. Sau đó, Watson sẽ tạo nên một tiếng động lớn bằng việc lấy búa đập vào một thanh thép mỗi khi Albert nhìn thấy chú chuột. Sau vài lần thực hiện, cậu bé bắt đầu khóc và có biểu hiện sợ hãi mỗi khi con chuột xuất hiện trong phòng. Watson cũng tạo ra phản xạ có điều kiện tương tự với những con vật hoặc đồ dùng giống với con chuột như thỏ, râu của ông già noel,… (ND: ở đây là chỉ những đồ vật/con vật có màu trắng giống con chuột) cho đến khi Albert sợ hãi tất cả những thứ đó.
Nghiên cứu này đã chứng minh rằng Điều kiện hóa cổ điển có ảnh hưởng đến con người. Ngoài ra, một trong những ý nghĩa quan trọng nhất mà nghiên cứu này phát hiện là nỗi sợ hãi của người lớn thường liên quan đến trải nghiệm thời thơ ấu của họ.
Anant Bhasker Rai, Trợ lý giám đốc tại Small Industries Development Bank of India (2016-nay)

Bình luận về bài viết

comments